Muôn dặm xa xăm, quan san ngh́n trùng cách trở, cho nên anh chị em chúng tôi tưởng nhớ quê hương, mượn nghệ thuật truyền thông bắt nhịp cầu liên lạc về Tổ Quốc.

 

 

     Trang Nhà

 

Mục Lục

 

Rừng Người Lao Động
Những Sự Kiện
Vấn Nạn Đất Nước
Dân Chủ Đa Nguyên
Câu Lạc Bộ Dân Chủ
Văn Học Nghệ Thuật
Trung Tâm Việt Học
   

   
    Tiểu Thuyết Giả Sử

 

 

Anh Hùng Nam Việt
   

   

Télévision

Ước Vọng Toàn Dân

Lật Lại Hồ Sơ Đen

Việt Nam Trung Hoa

Hôm Nay Mai Sau

Dặm Trường Quê Hương

Đất Nước Lưu Danh

Dân Tộc Sinh Tồn
   

 

Thảo Luận

B́nh Luận

Ư Kiến

Báo Lưu Trữ
   

 

Tiếp nhận thư tín :

 

Trang Nhà  :

 

   

Chủ Nhiệm : Viên Dung

Tổng B.T : Sông Dinh

Ban Biên Tập :

Trần Đại Trường, Nguyễn Trung Châu, Nguyễn Giang Thành, Mai Ḥa Hiệp, Lê B́nh Định, Cổ Hoa Trà, Chu Hậu Hạp, Đinh Tứ Hải, Phạm Thiên B́nh, La Hối, Huỳnh Thiện Nam, Phan Ngọc Linh.

 
   
   
   
   
   
   
   
   
   

 

 

 

 

Google
Saigonbao.com
Thông Luận
Tổ Quốc
Nhân Ái

Đất Việt

Photoht

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     31
Phạm Quế Dương
Nguyễn Thanh Giang
Phạm Hồng Sơn
Lê Chí Quang
Nguyễn Vũ B́nh
Vi Đức Hồi
Nguyễn Thượng Long
Nguyễn Gia Kiểng
Nguyễn Văn Lư
Trần Khải Thanh Thủy
Lê Thị Công Nhân
Nguyễn Văn Đài
Hà Sĩ Phu
Nguyễn Đan Quế
T.T.Thích Quảng Độ
Trần Dũng Tiến
Tiêu Giao Bảo Cự
Bùi Ngọc Tấn
Bùi Minh Quốc
LM  Chân Tín
Lê Quốc Quân
Nguyễn Xuân Nghĩa
Phạm Văn Trội
Lê Hồng Hà
Vũ Văn Hùng
Trần Kim Anh
Nguyễn Đan Quế
Nguyễn Phương Anh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Vài nhận xét về cuốn

"Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng

  Nhật Tiến

 

Nguyễn Gia Kiểng là một nhân vật rất được biết đến trong cộng đồng VN hải ngoại từ gần ba thập niên trước, thông qua Nhóm Thông Luận rồi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tôi cũng biết ông, đă từng gặp ông, nhưng không thể gọi là quen ông. Bởi v́ chưa một lần nào tôi có dịp được ngồi bên ông để trao đổi những suy tư về một số vấn đề. Tuy nhiên tôi thấy giữa ông và tôi có một điểm khác biệt rơ rệt. Trong khi tôi chỉ là một người viết, đôi khi cầm bút bầy tỏ công khai trên mặt báo về lập trường, quan điểm của tôi đối với một số vấn đề liên quan đến t́nh h́nh đất nước th́ ông Nguyễn Gia Kiểng lại là một nhà hoạt động chính trị . Ṛng ră bền bỉ từ nhiều thập niên, những hoạt động của ông cho tới bây giờ vẫn không ngưng nghỉ. Điều đó chứng tỏ ông muốn làm được một điều ǵ cho đất nước, trong đó có chủ trương ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, một điều mà tôi hoàn toàn tán đồng . Trong quá tŕnh hoạt động, ông cũng đă chịu nhiều hệ lụy, như đă thổ lộ trong tác phẩm : " Xét cho cùng không phải người ta phản đối những điều tôi viết ra, bởi v́ họ bịa đặt ra những điều tôi không hề viết hay nói, cắt xén những câu viết hay câu nói làm thay đổi hẳn ư nghĩa rồi dựa vào đó mà lên án. Lư do thực sự là họ có nhu cầu cần phải thóa mạ và đả phá một ai đó " (Tổ Quốc Ăn Năn, trang 74). Tôi cho rằng chính những sự bức xúc này đă góp một phần quan trọng để khiến ông ngồi viết nên tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn khá đồ sộ này, và Nguyễn Xuân Nghĩa mới đây trong một bài điểm về cuốn này cũng có nhận xét tương tự :

" Tôi nghĩ tới h́nh ảnh Nguyễn Gia Kiểng ngồi chẻ tượng thành củi dóm bếp và h́nh dung ra không phải cái cười hồn nhiên nhuốm vẻ tự đắc của anh , mà tới giọt nước mắt của người đă trăn trở từ lâu trong nỗi bất lực." ( tạp chí thế Kỷ 21, số 143, tháng 3 -2001 ) .

Thú thật, khi thoạt nghe tựa đề của cuốn sách, tôi hơi ngạc nhiên. Tổ Quốc Ăn Năn !! Tại sao Tổ quốc lại ăn năn ? Tổ quốc là một biểu tượng cao quí, ngay cả khi có nơi sử dụng bốn chữ " Tổ quốc ghi ơn" thay v́ phải là " tổ quốc ghi công " đă khiến cho nhiều người thấy khó chịu , huống hồ lại bắt Tổ Quốc phải ăn năn. Nếu quả thật có sự sai lầm ghê gớm nào đó th́ dân tộc của cái tổ quốc đó phải ăn năn mới gọi là chỉnh chứ , c̣n làm sao mà tổ quốc lại có thể và lại phải ăn năn được. Dĩ nhiên là ở đây, tác giả muốn xài một nghĩa bóng, muốn tạo một tác dụng cảm tính sâu xa trong tâm trí người đọc, và muốn kêu lên một cách thảm thiết rằng cả nước Việt Nam đă từng lầm lạc, không phải chỉ trong nhất thời mà ngay trong cả quá khứ xa xôi của lịch sử , để cho đến nay mọi con người Việt Nam phải biết ăn năn, phải biết xóa bỏ mọi tàn tích cũ để t́m ra sinh lộ cho chính ḿnh. Tôi sẽ chẳng nêu lên nhận xét về cung cách sử dụng từ ngữ tối nghĩa và không chỉnh này nếu tác giả không viết chương" Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi" trong đó có câu " "Phải nh́n nhận một sự thực đau ḷng : Chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết và không biết nói ." (Tổ Quốc Ăn Năn, trang 107).

Để minh chứng cho kết luận chắc nịch này, tác giả đă đưa ra nhiều chứng cớ, như Cựu Tổng Thống Thiệu khi viết bản cương lĩnh cho "Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Dân Chủ và Tái Thiết Việt Nam " đă để lại gần 100 lỗi chính tả và văn phạm, như các sinh viên của tác giả , khoa kinh tế , thuộc một trường đại học ở Sài G̣n năm 1974 , đă khiến tác giả phải nêu nhận xét : " Các sinh viên ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp, hoàn toàn không biết viết tiếng Việt. Họ viết những câu rất dài, và luộm thuộm , sai văn phạm, sai chính tả , sai cả nghĩa của từ ngữ", hay như " Một biểu ngữ lớn trong cuộc mít tinh lớn : Cương quyết xiết chặc hàng ngũ...".... vân.. vân....

Tất cả những bằng cớ nêu ra của tác giả đều đúng cả, ông không nói quá, ta có thể t́m thấy những sơ sót như thế đầy rẫy trên báo chí Việt ngữ ở đây, chẳng cứ trong cả một bài viết dài mà; khi ngay cả trong những tít lớn chạy ngang cột báo, hoặc cụ thể hơn, ngay trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn này tôi cũng có thể t́m thấy vô số những chỗ văn không chỉnh, nhiều điệp ngữ , thậm chí có lắm câu tối nghĩa ! Nhưng nếu chỉ có thế mà ông khẳng định : "Chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết và không biết nói ." th́ tôi e rằng ông Nguyễn Gia Kiểng đă chỉ nh́n thấy vài mụn ghẻ trên làn da mà đă la lên là có bệnh hủi và tôi cũng rất lấy làm tiếc rằng ông đă phủi đi biết bao nhiều công tŕnh văn hóa tráng lệ của tiền nhân đă để lại cho con cháu. Khỏi cần nhắc lại những áng văn thơ của Nguyễn Trăi, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn thị Điểm hay cả một gia tài ca dao phong phú, chỉ xin vắn tắt : Nếu không biết đọc th́ chúng ta đă không thể nhận biết được thiên tài Nguyễn Du qua truyện Kiều, không biết viết th́ xin hỏi cuốn Tổ Quốc Ăn Năn , tác giả đă đựng cái ǵ trong đó ? Và không biết nói th́ làm sao giải thích được sự giầu có, phong phú và tinh vi của ngôn ngữ Việt có thể t́m thấy đầy rẫy trong các câu ca dao, một h́nh thức văn chương truyền khẩu qua bao nhiêu thế hệ ?

Nhiều lănh vực được đề cập đến trong tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đều đă bị Nguyễn Gia Kiểng dẫn đến cùng chung một số phận, mà ông Nguyễn Xuân Nghĩa ( trong bài báo đă dẫn ở trên) đă tóm tắt bằng những h́nh tượng ngắn gọn : chẻ tượng thành củi dóm bếp, đem những h́nh tượng đẹp nhất của ta vứt xuống đất. Công bằng mà nói, có thể khi làm những công việc này, ông thực ḷng mong muốn đất nước, con người, tổ quốc Việt Nam phải được tốt đẹp hơn sau biết bao nhiêu là đổ vỡ, nhiễu nhương, nhưng đáng tiếc là ông đă thể hiện ḷng mong muốn này bằng giải pháp xóa đi tất cả những truyền thống cũ để toan tính làm lại từ đầu. Đành rằng dân tộc VN phải tỉnh thức và soi rọi lại ḿnh trước khi bước vào một vận hội phục hưng , nhưng sự thức tỉnh nếu có, th́ có sẽ khởi đi từ những ư tưởng mà ông đă nêu ra trong cuốn sách này không? Hay sự đạp đổ mọi truyền thống như ông mong mỏi sẽ chỉ làm cho khuôn mặt tổ quốc trở thành thảm hại hơn ? Đọc tác phẩm này của ông , tôi không khỏi không nghĩ đến cuộc Cách Mạng Văn hóa đỏ ở Trung Quốc trước đây , tuy nhiên tôi không dám có ư nghĩ rằng ông đă coi Giang Thanh như là một thần tượng.

- Về mặt Lịch Sử : ông cho rằng " Muốn có ích, nghĩa là muốn làm một nguồn kinh nghiệm cho phép rút ra những bài học chung cho dân tộc, lịch sử phải chính xác và đầy đủ ", nhưng theo ông th́ " Lịch sử , kể cả lịch sử cận đại của ta không những thiếu xót mà c̣n bị xuyên tạc.Đă thế , vô số lư luận hồ đồ lại c̣n được lại c̣n được tung ra với mục đích giải thích lịch sử theo chiều hướng có lợi cho một phe phái. Người Việt Nam , kể cả trí thức , vốn đă thiếu óc phê b́nh, lại c̣n bị khủng bố bởi cả một phong trào khai thác lịch sử. (Tổ Quốc Ăn Năn trang 118) .

- Về mặt Văn Hóa : Ông cho rằng văn hóa truyền thống của ta là văn hóa Nho Giáo, theo thói quen thường gọi là Khổng Giáo. Khổng Giáo đă tạo ra nếp sống trong nhân gian. Ông liệt kê và dẫn giải, tôi chỉ xin tóm tắt : đó là "óc thủ cựu, óc bất dung, độc quyền lẽ phải , sự sùng bái người xưa một cách bệnh hoạn, và logic bạo lực" bởi v́ "nền tảng của xă hội Khổng Giáo là bạo lực." ( trang 301)

Sản phẩm của xă hội Khổng Giáo là kẻ sĩ . Và kẻ sĩ Việt Nam dưới cái nh́n của Nguyễn Gia Kiểng th́ như sau :

 

"Mối liên hệ vua tôi, cốt cán của tư tưởng chính trị Khổng Giáo đưa tới hai hậu quả. Một là, kẻ sĩ, tinh hoa của xă hội, mất hết nhân cách, xă hội v́ thế lẫn quẩn trong sự thui chột và hèn kém. Hai là, các cuộc khủng hoảng xă hội rất khó có lối thoát. Kẻ sĩ chân chính không phải là người khởi nghiệp. Triết lư của họ là lúc khó khăn th́ lánh mặt. (trang 321).

Đấy là chuyện quá khứ, nhưng ngay cả bây giờ, Nguyễn Gia Kiểng cũng vẫn nh́n trí thức Việt Nam là hậu thân của kẻ sĩ ngày xưa .

" Trí thức Việt Nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ phụ-tử vẫn c̣n rất thắm thiết. Kẻ sĩ vẫn c̣n là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt Nam. Ngày nay người ta vẫn c̣n tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta vẫn c̣n khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ. Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn,vong thân? Chúng ta vẫn c̣n là kẻ sĩ, và v́ thế vẫn c̣n mang cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn đề là như thế. Người ta có thể hấp thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và một tâm tính đă được nhào nặn qua nhiều thế hệ, đă ăn rễ vào con người và đă biến thành một bản năng, là một điều khó gấp nhiều lần. (trang 313).

Trong cả hai lănh vực Lịch sử và Văn hóa kể trên , v́ lư do giới hạn của bài viết và v́ có những vấn đề quá rộng lớn đă được đề cập đến trong tác phẩm , nên tôi chỉ xin nêu lên một đôi điều nhận xét :

Về Lịch sử : Tôi hoàn toàn không chia xẻ chủ trương xé nát những thần tượng , không của riêng tôi mà của tất cả những ai c̣n tự coi ḿnh là người Việt Nam. Xin chỉ lấy một Quang Trung Nguyễn Huệ làm cơ sở bàn luận. Chẳng hạn ông viết : "Nguyễn Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người, đó là một sự thực. Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng cướp Tập Đ́nh và Lư Tài đánh chúa Nguyễn rồi lại đánh Tập Đ́nh và Lư Tài.; liên kết với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân Bắc Hà giết. Nguyễn Hữu Chỉnh không chết mà lại phát lên được th́ sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu Chỉnh , tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi lai giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả Nguyễn Nhạc đối với Huệ vừa có nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng đánh." ( trang 161) .

Chẳng hạn ông viết : "Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh , không có trong một sử liệu nào, đề thổi phồng tầm vóc của trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ "đại phá quân Thanh". (Trong hịch của Tôn Sĩ Nghị có nói tới năm chục vạn, nhưng đó, theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí, chỉ là tờ truyền đơn mà mục đích là hù dọa làm mất tinh thần quân Tây Sơn . Chính Nguyễn Huệ cũng biết đây chỉ là chuyện hù dọa. Ở một điểm Trần Trọng Kim giấu cả sự kiện. Toàn bộ việc thuật lại trận Đống Đa của ông dựa theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhưng trong khi HoàngLêNhất Thống Chí chép rằng quân Nguyễn Huệ đi sau các bức mộc bia, cứ ba mươi người đàng sau một bức , tất cả là hai mươi bức, th́ Trần Trọng Kim bỏ đi câu "tất cả 1à hai mươi bức" , v́ như thế chứng tỏ quân Tây Sơn chỉ có sáu trăm người, mâu thuẫn với tầm vóc "hai chục vạn quân Thanh ' mà ông gán cho trận Đống Đa" ( trang 168.)

Bới ra những chi tiết ở trên, tác giả Nguyễn Gia Kiểng hẳn muốn trả lại lịch sử những chi tiết trung thực của nó. Nhưng xin hỏi có sự thực nào trong sách vở được coi là tuyệt đối ? Những lời đồn đại hoặc ngay cả những tài liệu được viết trên giấy trắng mực đen về vua Quang Trung sau khi nhà Nguyễn đă lên ngôi , dễ ǵ c̣n giữ được tính trung thực trong bầu không khí khét lẹt về những hành động khủng bố , trả thù của Gia Long ( như đào mả Quang Trung, lấy xương đầu làm bô đựng nước tiểu ..v.v.). Ông Nguyễn Gia Kiểng đă nh́n thấy trí thức Việt nam đă từng bị khủng bố bởi cả một phong trào khai thác lịch sử như đă trích dẫn ở trên, vậy mà ông vẫn dùng chỉ một vài chi tiết sử liệu để làm hoen ố cả một sự nghiệp của một anh hùng dân tộc, một việc như thế có gọi là chính đáng không và sẽ có ích lợi ǵ ? Dân tộc nào cũng đều đă có những trang sử oai hùng để tạo dựng niềm tin và để cho các thế hệ nối tiếp noi theo. Vận nước có lúc thăng lúc trầm, nhưng có một dân tộc nào đă dại dột đem danh nhân lịch sử của ḿnh ra lật nhào chỉ v́ nhu cầu phát triển ? Trải qua bao thế hệ, người Việt Nam đă nh́n Quang Trung Nguyễn Huệ như một biểu tượng của tinh thần bất khuất của dân tộc với chiến công lừng lẫy đại phá quân xâm lược đến từ phương Bắc. Đấy là một sự thực hiển nhiên, rốt ráo, bất khả phản hồi. Là lớp hậu sinh, không ai được quyền đem những mũi dao tiểu tiết của đời thường ra rạch ṛi để làm hoen ố tổng thể của cả một bức tranh hùng tráng vốn đă được cả nước tôn sùng qua bao thế hệ.

Về Văn Hóa : tôi cũng hoàn toàn không đồng ư với những nhận định của tác giả xoay quanh đề tài kẻ sĩ. Tôi cho rằng Nguyễn Gia Kiểng đă đánh lộn ṣng giữa nhà nho chân chính với lũ hủ nho, và có sự sai lầm về từ ngữ giữa sĩ phu với kẻ sĩ. Trải cả ngàn năm lịch sử, chính nho phong đă là nguyên nhân ǵn giữ giềng mối gia đ́nh và xă hội, đă khiến cho dân tộc Việt Nam trường tồn không bị Trung Quốc đồng hóa và đă tạo nên biết bao nhiêu nhân vật lẫy lừng cả về mặt lịch sử cũng như văn hóa. Mặt khác,sĩ phu là toàn thể những con người được đào luyện trong môi trường giáo dục của Khổng giáo. Họ là những kẻ đă từng tham gia guồng máy nhà nước. Có người giữ được tiết tháo, nhưng cũng có lắm kẻ vong thân. Một ông quan thanh liêm, nhiều khi do hoàn cảnh nhiễu nhương đă rũ áo từ quan về qui ẩn , đó là một sĩ phu giữ được tiết tháo. Một kẻ bán nước cầu vinh như Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu là điển h́nh cho một thứ sĩ phu đă bị vong thân. Không bao giờ người ta coi Hoàng Trọng Phu là một kẻ sĩ . Kẻ sĩ là từ ngữ chỉ dành cho những trí thức chân chính của mọi thời đại, họ là "khuôn mẫu" " của những trí thức ưu thời mẫn thế,có ḷng với đất nước. Trong thời phong kiến, kẻ sĩ có thể ở ẩn,có thể tham chính,có thể lui, có thể tớI; y thời thế,nhưng lúc nào cái tâm của họ cũng vằng vặc sáng như Sao Khuê. Đừng nh́n vào cái đám tự nhận ḿnh là trí thức nhưng thực chất chỉ là những thứ tiểu nhân a dua mà thời nào cũng có để kết án "kẻ sĩ". Ngoài ra , kẻ sĩ c̣n có phẩm chất của một con người biết dơng dạc nói lên nguyện vọng chân chính của đa số quần chúng. Tiếng nói của Chu văn An trong vụ dâng thất trảm sớ là tiếng nói của kẻ sĩ. Trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc (1956), tiếng nói bất khuất của nhà văn Phan Khôi cũng là tiếng nói của kẻ sĩ. Và gần đây nhất, những nhân vật hiện c̣n sinh sống ở trong nước mà vẫn dám nói lên tiếng nói khát vọng tự do dân chủ của ḿnh như Hà Sĩ Phu, như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc , Tiêu Dao Bảo Cự .v.v cũng đều là tiếng nói của những kẻ sĩ thời đại. Tôi không hề nh́n thấy ở họ đâu là tính chất của những kẻ tôi tớ, tồi hèn, vắng mặt trong xă hội vốn là những điều mà tác giả đă lên án, mặc dù ở thời nào mà chẳng có kẻ mang đầy đủ những tính chất đó v́ chỉ biết cam tâm qú gối , cong lưng trước quyền lực để cầu an, cầu danh hay cầu lợi.

Về mặt nhân văn, tác giả lên án kịch liệt những giá trị khuôn mẫu của con người trong Khổng Giáo. Ông cho rằng : " hệ thống giá trị áp đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo.Nó hạ giá người phụ nữ xuống hàng một nô lệ và một vật dụng. Trí tuệ và nhân cách của người đàn bà không được kể đến" (trang 295).

Tôi không phủ nhận tính cách thua thiệt , thậm chí nhiều khi c̣n là sự bị bóc lột đến tận xương tủy của người phụ nữ trong xă hội ngày xưa.Nhưng đó không phải chủ trương của Khổng giáo. Không phải v́ một sự t́nh cờ mà người vợ trong gia đ́nh được xưng danh là Nội Tướng. Đó là một sự phân công xă hội căn cứ vào thể chất và tâm lư của phái tính. Vợ lo việc nhà, chồng lo việc nước, mà cũng có khi " giặc đến nhà , đàn bà phải đánh", nếu không, ta đă chẳng có những trang sử oai hùng của Bà Trưng, Bà Triệu. Từ ngày có hoàn cảnh được sinh sống ở nước ngoài , khi quan sát sinh hoạt của xă hội Âu Mỹ, tôi lại càng nh́n thấy cái giá trị tuyệt vời của người phụ nữ Á Đông hay gần gũi hơn , của người phụ nữ Việt Nam vốn đă được định h́nh trong khuôn khổ của Khổng Giáo. Công , Dung , Ngôn , Hạnh chỉ là những tiêu chuẩn xă hội để người phụ nữ noi theo chứ không phải là những luật lệ ép buộc. Có đầy đủ th́ càng quư, thiếu sót một hai điều, không v́ thế mà bị bắt tội. Cái khiếm khuyết to lớn nhất của Khổng Giáo đối với người phụ nữ là chủ trương trọng Nam , khinh Nữ nhưng điều này đă thuộc về quá khứ. Cuộc Cách mạng tháng 8-1945 đă đặt người phụ nữ vào cán cân " Nam Nữ B́nh Quyền". Nhiều tính chất yếu kém trong khuôn khổ Khổng Giáo đă bị quét bỏ, thí dụ như trong hôn nhân, không c̣n cảnh " Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy". Qui luật Tam Ṭng ( tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử) cũng đă được diễn dịch một cách khoáng đạt hơn. Chủ yếu là dựa trên ḷng hy sinh và cơ sở tự nguyện. Cha ḿnh, chồng ḿnh, con cái của ḿnh , toàn là những người thân yêu ruột thịt, nếu có phải hy sinh để mà ṭng th́ cũng có ǵ là sai trái, là trở thành ngục tù hay nô lệ? Người phụ nữ nào trong ngày nay, nếu có thiếu sót trong những bổn phận đó th́ cũng không bị dư luận kết án nặng nề. Không ai có thể thấu hiểu hoàn cảnh riêng tư của mỗi người bằng chính người trong cuộc. Xă hội bây giờ đă biết cảm thông chứ không c̣n chỉ biết có lên án. Người phụ nữ Việt Nam trên lư thuyết đă được giải phóng, tuy nhiên trong ngàn vạn trường hợp, họ đă hy sinh quyền lợi riêng tư để lựa chọn chỗ đứng về phía những người thân ruột thịt của ḿnh. Vào những năm cuối thập niên 70 hay suốt thập niên 80, đă có biết bao nhiêu phụ nữ chịu đựng gian nan, khổ ải để lặn lội vào tận rừng sâu, núi thẳm ḥng thăm nuôi bằng được chồng con đang bị tù đầy trong các trại cải tạo. Chắc là trong những năm gian khổ đó, tác giả cũng đă có nhiều người thân thăm viếng và hẳn ông cũng đă từng thấy ḷng rưng rưng , xúc động khi thấy những người phụ nữ thân yêu ruột thịt của ḿnh đă tới, đă hỏi han, đă an ủi, đă gom góp thuốc men, quà bánh , tất cả đă chứng tỏ họ không bao giờ bỏ quên chồng , con trong ṿng ngục tù đen tối. Chẳng ai bắt buộc họ làm, mà chỉ bởi họ là những phụ nữ Việt Nam vốn được nuôi dưỡng trong cái nôi truyền thống Việt Nam nên đă có đầy đủ đức hy sinh và ḷng tự nguyện . Như thế, người phụ nữ VN trong những năm trời đen tối ấy đă rơ ràng thể hiện câu tam ṭng trên một b́nh diện cực kỳsáng chói. Và nếu cần phải xét lại cái quan niệm này để giải phóng phụ nữ một cách tích cực hơn th́ theo tôi nghĩ, chính các đối tượng Phụ, Phu, Tử mới là những thành phần cần phải soi gương lại chính ḿnh. Là Cha mà chỉ coi con cái như một lũ nằm trong quyền sinh sát của ḿnh, là Chồng mà chỉ coi vợ như một tên tôi tớ, hay là con mà chỉ khai thác sức lao động của mẹ để hưởng thụ cho riêng ḿnh th́ muôn đời phụ nữ vẫn bị giam hăm trong địa ngục, chẳng cứ là trong khuôn khổ tứ đức, tam ṭng như tác giả đă nêu ra.

V́ khuôn khổ của bài viết có hạn, tôi không thể nêu ra được thêm nhiều ư kiến riêng tư hơn nữa. Nhưng nh́n chung, tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đă đưa ra nhiều cách nh́n táo bạo và đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ . Có những phát hiện của ông, có thể mang tác dụng uốn nắn được cách nh́n, cách suy nghĩ, cách hành xử của một số người . Nhưng cũng không thiếu những điều sẽ làm cho người đọc phẫn nộ. Bởi v́ ông đă đi quá đà khi đưa ra nhiều kết luận liều lĩnh dựa trên những tiền đề chưa đủ tầm vóc để có sự thuyết phục. Phải chi ông tự chế được nhiều hơn th́ tiếng nói của ông sẽ được nhiều người lắng nghe hơn, và theo tôi hiểu, chính ông cũng rất mong mỏi được như thế, hơn là chỉ biết nói lên bất cứ cái ǵ để giải tỏa những nỗi bất lực chất chứa trong con người của ḿnh.

Trừ phi ông c̣n có một dụng ư khác !

  Nhật Tiến

California ngày 8-3-2001

 

  31